Thành ngữ HSK 5 những câu thường gặp trong bài thi

Thành ngữ HSK 5 những câu thường gặp trong bài thi

Trong các bài thi HSK 5 thì thành ngữ thường xuyên xuất hiện. Thành ngữ thường xuất hiện trong các bài nghe, đọc, sửa lỗi,... Sau đây Tiếng Trung Online Zhong Ruan chia sẻ với các bạn một số thành ngữ HSK 5 thường xuyên xuất hiện trong các bài thi nhé!

Những thành ngữ HSK 5 thường xuất hiện trong bài thi

1. 黔驴技穷 / Qiánlǘjìqióng / Sức cùng lực kiệt

Ý nói đến việc toàn thân cả về thể chất lẫn tinh thần bị suy sụp, kiệt quệ hoàn toàn.

2. 画蛇添足 / Huàshétiānzú / Vẽ rắn thêm chân

Câu thành ngữ này ý muốn nói là phê phán những việc làm không cần thiết, thừa thãi, không thực tế, chỉ gây thêm rắc rối mà thôi.

3. 亡羊补牢 / Wángyángbǔláo / Mất bò mới lo làm chuồng

Câu thành ngữ "mất bò mới lo làm chuồng" ý chỉ những kẻ không biết lo liệu, đề phòng trước, để mọi việc hỏng rồi mới lo ứng cứu, phòng thân. Cũng hàm ý chỉ những người ngu dốt.

4. 一意孤行 / Yīyìgūxíng / Khư khư cố chấp

Câu này có nghĩa là không chịu chấp nhận thành kiến, lời khuyên của người khác. Luôn luôn cố chấp làm theo suy nghĩ, tư tưởng bảo thủ chủ quan của riêng mình.

5. 掩耳盗铃 / Yǎn’ěrdàolíng / Bịt tai trộm chuông

Câu thành ngữ ẩn dụ này ám chỉ những người tự cho mình là thông minh, tưởng rằng có thể đi lừa dối người khác, nhưng thực ra là chỉ đang tự lừa chính bản thân mình mà thôi.

6. 指鹿为马 / Zhǐlùwéimǎ / Chỉ hươu nói ngựa

Cấu này muốn nói đến trong cuộc sống chúng ta, nhiều người chỉ vì ham muốn lợi ích cá nhân mà bất chấp trái phải, sẵn sàng đổi trắng thành đen, đổi đen thành trắng miễn là thuận theo ý mình.

Hình ảnh về câu chuyện chỉ hươu nói ngựa
Hình ảnh về câu chuyện chỉ hươu nói ngựa

Bắt nguồn từ câu chuyện: khi Tần Thủy Hoàng chết, Hồ Hợi lên kế vị, lấy hiệu là Tần Nhị Thế. Nhưng có một vị thừa tướng trong triều lúc đó là Triệu Cao có mưu đồ soán ngôi nhà Tần. Hắn bắt đầu thực hiện mưu đồ của mình, Triệu Cao bèn lập mẹo để thử triều thần, xem họ có sẵn sàng thần phục mình hay không. Ông sai gia nhân dắt một con hươu đến sân triều và nói với Tần Nhị Thế: “Bẩm đại vương! Thần có một con ngựa quý muốn hiến cho đại vương”.

Nhị Thế ngạc nhiên bèn nói, đây là hươu chứ đâu phải ngựa. Triệu Cao liền quay ra hỏi các đại thần, rằng đây là con gì. Nhiều kẻ bợ đỡ, xu nịnh, muốn nhân cơ hội sau này có dịp nhờ vả Triệu Cao nên nhao nhao nói đó là con ngựa. Chỉ có một số ít người khảng khái dám nói đó là con hươu chứ chẳng có gì giống ngựa. Triệu Cao liền bí mật ghi tên những người này vào sổ để sau này có dịp sẽ tìm cách trị họ.

7. 狐假虎威 / Hújiǎhǔwēi / Cáo mượn oai hùm

Thành ngữ ẩn dụ này có nghĩa muốn nhờ vả, dựa vào người khác hoặc sức mạnh của họ để bắt nạt người.

Bắt nguồn từ câu chuyện: một con hổ tìm những con thú để ăn. Khi bắt được một con cáo, cáo nói với hổ: Ngươi không nên ăn thịt ta. Vì thiên đình đã sai ta làm thủ lĩnh của những con thú. Nếu ngươi ăn ta, ngươi đã vi phạm trật tự của thiên đình. Nếu ngươi không tin, thì ta sẽ đi trước ngươi để xem những con thú khác có nhìn thấy và sợ không. Con hổ tin đó là sự thật, vì vậy nó đi cùng với con cáo. Khi những con thú nhìn thấy con hổ, tất cả đều bỏ chạy. Con hổ không hiểu rằng các con thú ở đây sợ mình mà bỏ chạy, chứ không phải sợ cáo mà bỏ chạy.

8. 望梅止渴 / Wàngméizhǐkě / Vọng mai chỉ khát / Trông mơ đỡ khát

Câu thành ngữ ý nói dùng những thứ ảo tưởng không có thực, không thực tế để tự an ủi bản thân. Hoặc bản thân tự hình dung ra những mong muốn mà không thể thực hiện được.

Hình ảnh về câu chuyện vọng mai chỉ khát
Hình ảnh về câu chuyện vọng mai chỉ khát

Bắt nguồn từ câu chuyện: Tào Tháo chỉ huy quân đội tiến đánh Trương Tú. Dưới cái nắng như thiêu như đốt, binh sĩ hành quân trên sa mạc mênh mông, ai cũng khát đến không chịu nổi nữa. Vì vậy, Tào Tháo bảo các binh sĩ của mình: “Đừng sốt ruột, nói cho các ngươi nghe, nơi này ta đã từng đi qua, đi thêm một đoạn đường nữa là có thể nhìn thấy một rừng mơ rất lớn. Mơ ở đó rất nhiều, lại vừa ngọt, vừa chua, giải khát rất tốt.” Binh sĩ nghe Tào Tháo nói vậy, không nhịn được nữa liền tưởng tượng ra vị chua, vị ngọt của mơ. Ai cũng đều ứa nước miếng, thế là tự nhiên không còn cảm thấy khát nữa.

9. 拔苗助长 / Bámiáozhùzhǎng / Nóng vội hỏng việc

Ý muốn nói là mọi việc đều phải thực hiện từ từ, không nóng vội mà dẫn đến đốt cháy giai đoạn. Nếu muốn thành công thì phải kiên nhẫn, không thì mọi sự khó thành.

10. 愚公移山 / Yúgōngyíshān / Ngu công dời núi

Câu thành ngữ nói về sự kiên trì, bền bỉ, không bao giờ bỏ cuộc trước những khó khăn.

Hình ảnh về câu chuyện ngu công dời núi
Hình ảnh về câu chuyện ngu công dời núi

Bắt nguồn từ câu chuyện: có hai ngọn núi lớn chắn ngang đường trước nhà Ngu Công. Anh ta quyết tâm san bằng ngọn núi. Mọi người, trong đó có người là Trí Tẩu cười nhạo anh ta vì anh ta quá ngu ngốc rằng điều đó là không thể. Ngu Công nói: “Tôi tuy đã sắp chết, nhưng tôi còn có con trai, con trai tôi chết, còn có cháu, con cháu đời đời truyền cho nhau, vô cùng vô tận. Đất đá trên núi dọn đi chút nào thì ít đi chút ấy, không thể mọc thêm được. Chúng tôi ngày nào, tháng nào, năm nào cũng dọn, làm sao không thể dọn nổi ngọn núi?”.

11. 守株待兔 / Shǒuzhūdàitù / Ôm cây đợi thỏ

Câu thành ngữ ám chỉ sự lười biếng, chỉ suốt ngày ước ao được gặp may mắn, mà không chịu bắt tay vào làm.

Bắt nguồn từ câu chuyện: một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng có một cây to. Có con thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm vào gốc cây, đập đầu chết. Người cày ruộng thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi bắt thỏ. Hắn cứ ngồi khư khư ôm gốc cây, mong lại được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu, lại mất một buổi cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng chê cười.

12. 名落孙山 / Míngluòsūnshān / Danh lạc tôn sơn (thi trượt)

Câu thành ngữ này có xuất xứ từ “Quá đình lục” của Phạm Công Xưng triều nhà Tống. Các văn nhân muốn ra làm quan thì trước tiên phải tham gia khoa cử. Sau khi đỗ thi hương mới có thể tham gia thi hội. Chàng thư sinh Tôn Sơn, cùng con trai của một ông lão trong làng lên tỉnh dự thi.

Hình ảnh về câu chuyện danh lạc tôn sơn
Hình ảnh về câu chuyện danh lạc tôn sơn

Sau khi thi xong mấy ngày, bảng văn được công bố. Tôn Sơn xem thì thấy tên mình đứng ở hàng cuối cùng, vậy là chàng đã thi đỗ cử nhân. Còn con trai của ông lão cùng làng thì không có tên trên bảng. Tôn Sơn liền quay về báo tin, anh này tỏ ra vô cùng chán nản và nói sẽ nán lại trong thành chơi mấy ngày.

Tôn Sơn thu xếp lên đường về nhà. Bấy giờ cả làng đều đến chúc mừng anh. Ông lão trong làng không thấy con về mới hỏi Tôn Sơn con mình có trúng cử không? Tôn Sơn buột miệng đọc luôn hai câu thơ:

"Giải danh tận xử thị Tôn Sơn,
Hiền lang canh tại Tôn Sơn ngoại"

Hai chữ “Giải danh” ở đây là chỉ tên cử nhân trên bảng.

Ý của hai câu thơ này là nói: Tôn Sơn xếp ở hàng cuối bảng cử nhân, còn con trai nhà ông lão thì xếp ở sau Tôn Sơn. Ông lão nghe xong nghĩ bụng: “Ngay đến Tôn Sơn mà còn xếp ở hàng cuối, con mình học hành không bằng Tôn Sơn thì xếp vào hàng sau Tôn Sơn là đúng rồi”. Ông nghĩ vậy rồi lặng lẽ ra về.

Hiện nay, mọi người vẫn thường dùng câu “Danh lạc Tôn Sơn” để ví về việc thi trượt.

13. 塞翁失马 / Sàiwēngshīmǎ / Tái ông thất mã

Câu thành ngữ muốn nói rằng những điều dù là xấu hay tốt đều luôn luôn biến đổi nhau trong một điều kiện nhất định. Cũng có nghĩa điều xấu có thể biến thành điều tốt nếu ở trong những điều kiện nhất định.

14. 刻舟求剑 / Kèzhōuqiújiàn / Khắc chu cầu kiếm

Thành ngữ "Khắc chu cầu kiếm" (khắc thuyền tìm kiếm), nhằm chỉ những người cố chấp, hẹp hòi, chỉ cho mình là đúng mà không chịu suy xét, tìm hiểu sự việc.

Bắt nguồn từ câu chuyện: Nước Sở có người đi qua sông. Bỗng thanh kiếm của người đó rơi xuống nước, người đó vội vàng khắc một cái dấu lên thuyền, nói: “đây là nơi kiếm ta rơi”. Thuyền đỗ lại, anh ta liền tìm đúng vết khắc đó lặn xuống nước tìm thanh kiếm. Chiếc thuyền thì di chuyển, còn thanh kiếm thì không. Tìm kiếm như vậy, chẳng phải là không hiểu biết gì sao?

Trên đây là những câu thành ngữ thường xuyên xuất hiện trong đề thi HSK 5 mà Zhong Ruan đã liệt kê cho các bạn. Để luyện thi tốt thì các bạn hãy tìm tòi học hỏi thêm nhiều câu thành ngữ khác nữa nhé!


Tham khảo khóa luyện thi HSK mọi cấp độ của Zhong Ruan: TẠI ĐÂY

Các khóa học của Zhong Ruan: TẠI ĐÂY

Bình luận

BÀI VIẾT KHÁC